Đóng
 

Thứ sáu, 24/07/2026 | 00:29
15:02  |  23/07/2026

Việt Nam lần đầu bổ sung xe EREV vào nhóm xe điện hóa, mở đường hoàn thiện chính sách quản lý

Từ ngày 1/7/2026, Việt Nam lần đầu tiên bổ sung dòng xe điện mở rộng phạm vi hoạt động (EREV) vào hệ thống phân loại phương tiện giao thông đường bộ. 

Quy định mới được nêu trong Thông tư 45/2026 của Bộ Xây dựng, sửa đổi và bổ sung Thông tư 53/2024 về phân loại phương tiện giao thông đường bộ.

Việc bổ sung EREV được đánh giá là bước hoàn thiện khung pháp lý đối với các loại xe điện hóa, tạo cơ sở để các cơ quan quản lý xây dựng chính sách liên quan đến thuế, lệ phí trước bạ và các quy định chuyên ngành trong thời gian tới.

EREV là gì?

EREV (Extended-Range Electric Vehicle) hoặc REEV (Range-Extended Electric Vehicle) là dòng xe sử dụng mô-tơ điện để dẫn động hoàn toàn, tương tự xe thuần điện (BEV). Tuy nhiên, xe được trang bị thêm một động cơ đốt trong làm nhiệm vụ vận hành máy phát điện nhằm sạc pin hoặc cung cấp năng lượng cho mô-tơ, thay vì trực tiếp truyền lực tới bánh xe.

Quy định cũng nêu rõ động cơ đốt trong không được người lái chủ động kích hoạt khi dung lượng pin vẫn đủ để xe vận hành ở chế độ thuần điện, ngoại trừ các trường hợp phục vụ bảo dưỡng, an toàn hoặc kiểm định theo thiết lập của nhà sản xuất.

Bên cạnh nguyên lý hoạt động, xe EREV còn được phân loại dựa trên phạm vi vận hành bằng điện theo chu trình thử nghiệm NEDC. Trong đó, những mẫu xe có khả năng chạy thuần điện từ 250 km trở lên được xếp vào nhóm EREVeb (electric based), còn các mẫu đạt từ 150 km đến dưới 250 km thuộc nhóm EREVep (electric priority).

Theo quy định, phạm vi hoạt động này được xác định khi pin được sạc đầy và động cơ đốt trong chưa tham gia phát điện.

Giảm phụ thuộc vào hạ tầng sạc

Ưu điểm lớn nhất của EREV là khắc phục hạn chế về phạm vi hoạt động của xe thuần điện. Khi dung lượng pin giảm xuống dưới ngưỡng quy định, động cơ đốt trong sẽ tự động vận hành máy phát để bổ sung năng lượng, giúp xe tiếp tục di chuyển mà không phụ thuộc hoàn toàn vào các trạm sạc.

Hiện nay, thị trường Việt Nam chưa có mẫu xe EREV nào được phân phối chính hãng.

Trước đây, Nissan Kicks từng sử dụng hệ truyền động có nguyên lý tương tự khi động cơ xăng chỉ đóng vai trò phát điện cho mô-tơ. Tuy nhiên, với bộ pin dung lượng 2,06 kWh, mẫu xe này không đáp ứng yêu cầu về phạm vi vận hành thuần điện tối thiểu theo quy định mới nên không được xếp vào nhóm EREV.

Hoàn thiện hệ thống phân loại xe điện hóa

Ngoài EREV, Thông tư 45/2026 cũng quy định rõ các nhóm phương tiện điện hóa đang có mặt trên thị trường.

Hybrid nhẹ (MHEV) là cấp độ điện hóa thấp nhất, trong đó mô-tơ chỉ hỗ trợ động cơ đốt trong khi khởi hành hoặc tăng tốc và không thể vận hành độc lập. Một số mẫu xe như Suzuki XL7 hay Suzuki Swift thuộc nhóm này.

Hybrid hoàn toàn (FHEV) sử dụng mô-tơ điện kết hợp động cơ đốt trong, nhưng pin không thể sạc từ nguồn điện bên ngoài. Tùy cấu hình của từng hãng, hệ truyền động FHEV được chia thành ba dạng gồm nối tiếp, song song và hỗn hợp.

Trong đó, hệ truyền động nối tiếp có nguyên lý gần với EREV khi mô-tơ điện đảm nhận nhiệm vụ dẫn động chính, còn động cơ đốt trong chủ yếu phát điện. Với hai cấu hình song song và hỗn hợp, mô-tơ điện và động cơ đốt trong có thể cùng tham gia truyền lực tới bánh xe.

Hybrid sạc ngoài (PHEV) là bước phát triển cao hơn của FHEV khi bộ pin có thể nạp điện từ nguồn bên ngoài. Dung lượng pin lớn hơn giúp xe có phạm vi vận hành thuần điện dài hơn trước khi động cơ đốt trong hoạt động. Tại Việt Nam, phân khúc này hiện có sự góp mặt của nhiều thương hiệu như BYD, Geely và Lynk & Co.

Xe thuần điện (BEV) vẫn là nhóm phương tiện sử dụng hoàn toàn mô-tơ điện và bộ pin được sạc từ nguồn điện bên ngoài. Đây cũng là phân khúc đang có quy mô lớn nhất tại Việt Nam với sự hiện diện của nhiều mẫu xe VinFast.

Việc lần đầu bổ sung EREV vào hệ thống phân loại phương tiện được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng pháp lý rõ ràng hơn cho các dòng xe điện hóa mới, đồng thời giúp cơ quan quản lý thuận lợi trong việc xây dựng các chính sách quản lý và ưu đãi phù hợp đối với từng loại phương tiện trong tương lai.

Đăng Dương (Otoxemay)